Giải quyết tác động của điều kiện tự nhiên và kỹ thuật canh tác đến trồng lúa

Ngày đăng: 15/09/2013 - Lượt xem: 736 (lần)
Công ty TNHH Công nghệ Na Nô đã nghiên cứu, sản xuất và phát triển thương mại các sản phẩm phân bón Nano có khả năng giải quyết triệt để các vấn đề về ô nhiểm đất, nước và tập quán canh tác trong sản xuất nông nghiệp.

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) với 3 mặt Đông, Nam và Tây Nam giáp biển (có đường bờ biển dài 700km), nằm trên địa hình tương đối bằng phẳng, mạng lưới sông ngòi, kênh rạch phân bố rất dày thuận lợi cho giao thông thủy. Diện tích tự nhiên toàn vùng là 40.546,20 km2; trong đó có khoảng 64% diện tích đất được dùng để sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản. ĐBSCL có 13 đơn vị hành chính bao gồm: 1 thành phố trực thuộc trung ương (Thành phố Cần Thơ) và 12 tỉnh (Long An, Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau).

 

Vùng ĐBSCL có lợi thế về tài nguyên đất đai, sông ngòi, cũng nh­ư điều kiện khí hậu thuận lợi, tổng diện tích đất đai của cả vùng đã xấp xỉ 4 triệu ha, chiếm khoảng 12% diện tích cả nước, trong đó loại đất tốt nhất là đất phù sa chiếm gần 30%. Khí hậu ổn định, nhiệt độ trung bình 28oC, chế độ nắng cao, số giờ nắng trung bình cả năm từ 2.226 - 2.790 giờ, ít xảy ra thiên tai do khí hậu gây ra. Nguồn nước được lấy từ 2 nguồn chính là từ sông Mekong và nước mưa. Sông Mekong chảy qua vùng ĐBSCL hàng năm đem lại lượng n­ước bình quân khoảng 460 tỷ m3/830 đến 840 tỷ m3/năm tổng lượng nước mặt có trên lãnh thổ Việt Nam và vận chuyển khoảng 150 - 200 triệu tấn phù sa. Việc vùng ĐBSCL hàng năm bị ngập lũ gần 50% diện tích từ 3 - 4 tháng tạo nên một đặc điểm nổi bật của vùng, một mặt làm hạn chế lớn đối với canh tác, trồng trọt và gây nhiều khó khăn cho đời sống của dân cư, nhưng mặt khác cũng tạo nên những điều kiện thuận lợi cho việc đánh bắt, nuôi trồng thủy sản và bổ sung độ phì nhiêu cho đất trồng trọt.

 

Cây lúa - cây trồng chủ lực ở ĐBSCL trong năm 2009  gieo trồng diện tích 3.854.623 ha, năng suất bình quân 5,38 tấn/ha và sản lượng 20.743.000 tấn, so năm 2008 giảm khoảng 4.753 ha, năng suất tăng 0,38 tấn/ha và tăng sản lượng khoảng 120.033 tấn. Đông Nam bộ diện tích 419.750 ha, năng suất bình quân 4,47 tấn/ha và sản lượng 1.816.592 tấn, so năm 2008 giảm 24.828 ha, năng suất tăng 1,88 tấn/ha và giảm sản lượng 27.384 tấn.

 

Thực tế hiện nay, gạo xuất khẩu của ĐBSCL có nhiều giống lúa trộn lẫn, gạo 15-25% tấm chiếm tỷ trọng cao nhất, gạo 5% tấm rất ít. Tỷ lệ gạo nguyên xay xát ở ĐBSCL chỉ đạt 30-40% (trong khi đó tỷ lệ gạo nguyên ở các nước tiên tiến đạt trên 50%).

 

Nguyên nhân làm cho chất lượng và sản lượng gạo không cao do kỹ thuật canh tác của nông dân, giống lúa và cơ cấu giống lúa chưa được quan tâm và nông dân sản xuất chưa theo quy trình kỹ thuật chung và hệ thống tồn trữ, bảo quản chưa tốt. Vì thế, việc xây dựng thương hiệu lúa gạo gặp nhiều khó khăn và kém cạnh tranh.

 

Do đó, để gia tăng tính cạnh tranh cho lúa gạo của ĐBSCL trước hết phải tổ chức lại sản xuất lúa, định hướng sản xuất theo quy trình mang tính an toàn cao, truy nguyên được nguồn gốc tiến tới xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam.

 

Để đạt được những yêu cầu trên, sản xuất lúa ở ĐBSCL cần từng bước thực hiện theo các tiêu chí hạn chế tối đa lượng phân bón hóa học và thuốc BVTV nhằm gia tăng chất lượng lúa gạo bằng cách sản xuất theo những yêu cầu và đòi hỏi của thị trường, theo đó sản phẩm lúa gạo phải không chứa dư lượng hóa chất và vi sinh vật gây hại đồng thời sản phẩm phải đảm bảo an toàn từ sản xuất đến tiêu thụ, truy nguyên được nguồn gốc.

Mặt khác, khi tiến hành thực hành nông nghiệp tốt thì vẫn đảm bảo được năng suất và sản lượng lúa ổn định và giữ được sự bền vững về môi trường canh tác trong điều kiện thâm canh cao, tăng vụ tại ĐBSCL.

Tuy nhiên, để thực hiện các vấn đề nêu trên trong tình hình sản xuất lúa ở ĐBSCL hiện nay vẫn còn gặp nhiều vấn đề về điều kiện tự nhiên đất đai, nguồn nước và tập quán canh tác, kỹ thuật canh tác của nông dân. Nghiên cứu, đánh giá, phân tích một số yếu tố tự nhiên, kỹ thuật canh tác lúa hiện nay tác động như thế nào đến tiến trình thực hành nông nghiệp tốt cho lúa là vấn đề cần được quan tâm.

Vấn đề ô nhiễm môi trường đất, nước ở ĐBSCL

Ô nhiễm môi trường đất được xem là tất cả các hiện tượng làm nhiễm bẩn môi trường đất bởi các tác nhân gây ô nhiễm. Đất bị ô nhiễm có chứa một số độc tố, chất có hại cho cây trồng vượt quá nồng độ đã được quy định. Thí dụ nồng độ thuốc trừ sâu, phân hóa học, kim loại nặng quá mức quy định

Ô nhiễm đất có thể do

+ Tự nhiên:

- Nhiễm phèn: do nước phèn tự một nơi khác di chuyển đến. Chủ yếu là nhiễm Fe2+, Al3+, SO42-. pH môi trường giảm gây ngộ độc cho con người trong môi trường đó.

- Nhiễm mặn: do muối trong nước biển, nước triều hay từ các mỏ muối,… nồng độ áp suất thẩm thấu cao gây hạn sinh lí cho thực vật

- Gley hóa trong đất sinh ra nhiều chất độc cho sinh thái (CH4, N2O, CO2, H2S. FeS,..)

+ Nhân tạo:

- Chất thải công nghiệp: khai thác mỏ, sản xuất hóa chất, nhựa dẻo, nylon, các loại thuốc nhộm, các kim loại nặng tích tụ trên lớp đất mặt làm đất bị chai, xấu, thoái hóa không canh tác tiếp được.

- Chất thải sinh hoạt: rác và phân xả vào môi trường đất: rác gồm cành lá cây,rau, thức ăn thừa , vải vụn , gạch ,vữa, polime, túi nylon, rác sinh hoạt thường là hỗn hợp của các chất vô cơ và hữu cơ độ ẩm cao nhiều vi khuẩn vi trùng gây bệnh. nước thải sinh hoạt theo cống rãnh đổ ra mương và có thể đổ ra đồng ruộng kéo theo phân rác và làm ô nhiễm đất

- Chất thải nông nghiệp: phân và nước tiểu động vật, sử dụng dư thừa các sản phẩm hóa học như phân bón hóa học, chất kích thích sinh trưởng, thuốc trừ sâu, trừ cỏ, tồn tại lâu trong đất, tích tụ sinh học, thay đổi cân bằng sinh học giữa đất và cây trồng, lan truyền từ môi trường đã ô nhiễm (không khí, nước), từ xác bã thực, động vật

 Ô nhiễm đất bởi nông nghiệp hiện đại

Trong nhiều hóa chất sử dụng trong nông nghiệp, người ta có thể phân biệt các chất khoáng (vô cơ) và các chất hữu cơ tổng hợp. Thâm canh không ngừng của nông nghiệp, sử dụng ngày càng nhiều các chất nhân tạo (phân hóa học, nông dược...) làm cho đất ô nhiễm tuy chậm nhưng chắc, không hoàn lại (irreversible), đất sẽ kém phì nhiêu đi.  

Phân hóa học được rãi trong đất nhằm gia tăng năng suất cây trồng. Nguyên tắc là khi người ta lấy đi của đất các chất cần thiết cho cây thì người ta sẽ trả lại đất qua hình thức bón phân. Trong các phân hóa học sử dụng nhiều nhất, ta có thể kể phân đạm, phân lân và phân kali. Trong một số đất phèn người ta còn bón vôi, thạch cao.

Nếu bón quá nhiều phân hoá học là hợp chất nitơ, lượng hấp thu của rễ thực vật tương đối nhỏ, đại bộ phận còn lưu lại trong đất, qua phân giải chuyển hoá, biến thành muối nitrat trở thành nguồn ô nhiễm cho mạch nước ngầm và các dòng sông. Cùng với sự tăng lên về số lượng sử dụng phân hoá học, độ sâu và độ rộng của loại ô nhiễm này ngày càng nghiêm trọng.

Các loại phân hóa học thuộc nhóm chua sinh lý (urea, (NH4)2SO4, K2SO4, KCl, super photphat) còn tồn dư acid đã làm chua đất, nghèo kiệt các ion bazơ và xuất hiện nhiều độc tố đối với cây trồng như : Al3+, Mn2+, Fe3+; làm giảm hoạt tính sinh học của đất. Bón nhiều phân đạm vào thời ký muôn cho rau quả, đã làm tăng đáng kể hàm lượng NO3- trong sản phẩm.

Sử dụng phân bón không đúng kỹ thuật trong canh tác nông nghiệp nên hiệu lực phân bón thấp, có trên 50% lượng đạm, 50% lượng kali và xấp xỉ 80% lượng lân dư thừa trực tiếp hay gián tiếp gây ô nhiễm môi trường đất. Các loại phân vô cơ thuộc nhóm chua sinh lý như K2SO4, KCl, super photphat còn tồn dư axit, đã làm chua đất, nghèo kệt các cation kiềm và xuất hiện nhiều độc tố trong môi trường đất như ion Al3+, Fe3+, Mn2+ giảm hoạt tính sinh học của đất và năng suất cây trồng.

Sự sử dụng có hệ thống một lượng nông dược ngày càng tăng ở nông thôn là một dẫn chứng cho một thảm họa sinh thái từ việc sử dụng thiếu suy nghĩ của một kỹ thuật mới. Nông dược chiếm một vị trí nổi bật trong các ô nhiễm môi trường. Khác với các chất ô nhiễm khác, nông dược được rải một cách tự nguyện vào môi trường tự nhiên nhằm tiêu diệt các ký sinh của động vật nuôi và con người hay vào nông thôn để triệt hạ các loài phá hại mùa màng.

Thuốc bảo vệ thực vật có đặc điểm rất độc đối với mọi sinh vật; tồn dư lâu dài trong môi trường đất- nước; tác dụng gây độc không phân biệt, nghĩa là gây chết tất cả những sinh vật có hại và có lợi trong môi trường đất. Theo các kết quả nghiên cứu, hiện nay, mặc dù khối lượng thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng ở Việt nam còn ít, trung bình từ 0,5-1,0 kg ai/ha/năm, tuy nhiên, ở nhiều nơi đã phát hiện dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong đất.

Nguồn gây ô nhiễm này chủ yếu là chất thải chưa qua xử lý của người và động vật, nước thải bệnh viện, nước thải sinh hoạt... trong đó nguy hại lớn nhất là chất thải chưa được xử lý khử trùng của các bệnh viện truyền nhiễm. Rất nhiều vi khuẩn và ký sinh trùng tiếp tục sinh sôi nảy nở trong đất, bám vào các cây trồng nông nghiệp và truyền vào cơ thể người, động vật.

 

Ô nhiễm nước có thể do

+ Tự nhiên

- Do nước chua có nguồn gốc từ đất phèn trong vùng, hoặc do nước chua đầu mùa lũ tràn sang từ đồng bằng Campuchia.

- Do đất nhiễm mặn, hoặc do nguồn nước mặn theo triều truyền sâu vào các nhánh sông, rạch của hệ thống sông Cửu long.

+Hoạt động kinh tế, xã hội

- Chất thải từ sản xuất công nghiệp, dịch vụ

 - Chất thải sinh hoạt, chăn nuôi (gia súc, gia cầm và thủy sản)

 - Chất thải từ sản xuất nông nghiệp

 

Nước chua là vấn đề rất đáng quan tâm ở ĐBSCL, gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng nước và kéo theo các tác động xấu đến sản xuất và đời sống của nhân dân. Nước chua xảy ra chủ yếu ở các vùng đất phèn hoặc lan truyền từ nơi khác đến. Thời gian bị chua 3-6 tháng: đầu mùa mưa (V-VII) và giai đoạn XII-I. Hiện nay, đất chua chủ yếu chỉ còn tập trung ở vùng Tứ giác Long Xuyên (TGLX), Đồng Tháp Mười và U Minh.

 

Ngoài sự nhiễm phèn, xâm nhập mặn cũng là một vấn đề cần được lưu ý ở ĐBSCL. Với hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, ăn thông ra biển mặn dễ dàng xâm nhập sâu vào nội địa. Trong mùa mưa nhờ có lượng nước ngọt phong phú (do mưa và dòng Mê kông mang đến) nên mặn bị đẩy lùi ra gần biển, nhưng vào mùa khô khi lưu lượng nước ngọt trên sông giảm, mặn lấn sâu vào nội đồng, gây ra những ảnh hưởng đáng kể. Trong thực tế sự xâm nhập mặn vẫn diễn ra phức tạp và là một trong những nguồn ô nhiễm khó khống chế, mà hậu quả gây ra về kinh tế xã hội khó đánh giá hết, nhất là ảnh hưởng tới chất lượng đất và qua đó tới chất lượng nước.

 

Một điều đáng lưu ý là chăn nuôi ở vùng ĐBSCL phát triển rất mạnh, theo thống kê trong vùng có khoảng 2,6 triệu đầu lợn, 260 000 trâu bò (cả bò sữa), gần 40 triệu con gia cầm . Số chất thải rắn do chăn nuôi đưa thẳng vào sông rạch khoảng 22 500 tấn/ngày đêm, chất thải lỏng (kể cả nước rửa chuồng trại) chừng 40 000 m3/ngày đêm.

 

Tập quán sinh hoạt nhất là việc thải trực tiếp các chất thải (từ người, gia súc và gia cầm) vào nguồn nước của cư dân trong vùng làm cho nước mặt ở ĐBSCL có độ nhiễm vi sinh cao, nồng độ Coliform trung bình khoảng 300.000 - 1.500.000 con/100ml.

 

ĐBSCL có trên 12.700 doanh nghiệp đang hoạt động, tác động mạnh đến các thành phần của môi trường, nhất là môi trường nước. Đặc biệt có 111 KCCN, 119 cơ sở chế biến thủy sản với công suất 3.200 tấn/ngày… sử dụng các nguồn nước trong sản xuất chế biến đã cho ra lượng nước thải trên 47 triệu m³/năm; các đô thị và các khu dân cư thải ra 102 triệu m³/năm.

 

Như vậy, để hạt lúa, gạo của ĐBSCL nâng cao được giá trị theo phương thức sản xuất mới, áp dụng các quy trình và sản phẩm theo công nghệ Nano của Công ty TNHH Công nghệ Na Nô, thì việc đánh giá các tác động của điều kiện tự nhiên, đất, nước và xem xét, tổng hợp các kỹ thuật canh tác tiên tiến, phù hợp với sản xuất lúa chung ở ĐBSCL là điều cần thiết trong tiến trình xây dựng mô hình và tổ chức thực hiện. Các yếu tố trên cần được đánh giá và phân tích các tác động để có thể đề xuất các giải pháp hợp lý cho tương lai. Hiện nay, chưa có một đánh giá nào về những tác động này đến chất lượng lúa gạo và những giải pháp khắc phục khi tổ chức thực hiện. Do vậy cần thiết phải xây dựng một quy trình chung cho việc thực hiện canh tác an toàn, thân thiện môi trường đồng thời tránh những ảnh hưởng xấu của sự ô nhiễm đất, nước đến quá trình canh tác lúa ở đồng bằng sông Cửu Long trong tương lai.

 

Nắm bắt được những nguyên nhân trên, Công ty TNHH Công nghệ Na Nô đã nghiên cứu, sản xuất và phát triển thương mại các sản phẩm phân bón Nano đáp ứng tối đa những tồn tại bất lợi của môi trường tự nhiên, tập quán sản xuất đến đến quá trình canh tác lúa ở đồng bằng sông Cửu Long trong tương lai.

 

Các sản phẩm chính của Công ty dùng cho lúa:

- Phân bón rễ Nano - R004;

- Phân bón rễ Nano - R011;

- Phân bón lá Nano Real;

- Phân bón lá Nano Potassium;

- Phân bón lá Nano Gold.

 

CLIP KẾT QUẢ XỬ LÝ ĐẤT NHIỄM PHÈN NẶNG TẠI AN GIANG